MỘT XÉT NGHIỆM MÁU ĐƠN GIẢN CÓ THỂ DỰ ĐOÁN SINH NON? NGHIÊN CỨU ĐỘT PHÁ CHO BIẾT CÓ

MỘT XÉT NGHIỆM MÁU ĐƠN GIẢN CÓ THỂ DỰ ĐOÁN SINH NON? NGHIÊN CỨU ĐỘT PHÁ CHO BIẾT CÓ

Nhà nghiên cứu chính cho biết bà hy vọng điều này sẽ trở thành một phần của chăm sóc tiền sản thường quy. Bất chấp nhiều tiến bộ trong chăm sóc trước khi sinh và trẻ sơ sinh trong những thập kỷ qua, sinh non (preterm birth) vẫn là mối đe dọa cận kề đối với những người mang thai tại Hoa Kỳ. Trên thực tế, một báo cáo năm 2024 của March of Dimes về tình trạng sinh non ở quốc gia này đã cho chúng ta một điểm D+ đáng suy ngẫm.1

Theo March of Dimes, sinh non được định nghĩa là việc sinh con (delivery) trước tuần thứ 37 của thai kỳ (37 weeks gestation). Vào năm 2023, cứ khoảng 1 trong 10 ca sinh tại Hoa Kỳ là sinh non, điều này, thật đáng tiếc, cho thấy hầu như không có thay đổi so với năm 2022.2

Tin tốt là một nhóm các nhà nghiên cứu tại Đại học Bang Ohio (The Ohio State University College of Nursing) – phối hợp với Trung tâm Y tế Wexner của Bang Ohio – đang tích cực phát triển một xét nghiệm máu, hứa hẹn mang lại nhiều triển vọng. Theo thử nghiệm, nó có thể dự đoán chính xác nguy cơ sinh non của một người với độ chính xác lên đến 97,5%.3

Chúng tôi đã nói chuyện với nhà nghiên cứu chính Shannon Gillespie, Tiến sĩ, RN, FAAN, trợ lý giáo sư tại Đại học Điều dưỡng Bang Ohio, về các yếu tố nguy cơ (risk factors) sinh non cụ thể và ý nghĩa của xét nghiệm máu mới mang tính cách mạng này đối với tương lai của tình trạng sinh non ở Hoa Kỳ.

Các Yếu tố Nguy cơ Phổ biến của Sinh non
“Khoảng hai phần ba các ca sinh non là sinh non tự phát (spontaneous preterm births), có nghĩa là chúng được khởi phát bởi những thay đổi về thể chất như cơn co thắt (contractions) hoặc vỡ ối (breaking of the bag of water)”, Tiến sĩ Gillespie giải thích với Parents.

Theo Tiến sĩ Gillespie, có nhiều yếu tố nguy cơ liên quan đến khả năng cao trải qua sinh non tự phát trong một thai kỳ.

  • Chủng tộc của một người. Tỷ lệ sinh non ở những người mang thai da màu không phải gốc Tây Ban Nha cao hơn 1,4 lần.1
  • Bất lợi về xã hội và/hoặc kinh tế và thiếu tiếp cận với dịch vụ chăm sóc tiền sản.
  • Cân nặng trước khi mang thai của mẹ thấp.
  • Sử dụng thuốc lá và/hoặc chất kích thích.
  • Khoảng cách giữa các lần mang thai ngắn.
  • Tiền sử sinh non tự phát.
  • Đa thai (Multiple gestations).
  • Chảy máu âm đạo (Vaginal bleeding).
  • Nhiễm trùng đường tiết niệu (Urinary tract infection) hoặc nhiễm trùng đường sinh dục (genital tract infection).
  • Bệnh nha chu (Periodontal disease).

Bà cho biết thêm, ngày càng rõ ràng rằng việc tiếp xúc với các chất gây căng thẳng tâm lý (psychological stressors) như phân biệt chủng tộc, có khả năng dẫn đến giấc ngủ kém, và các triệu chứng trầm cảm (depressive) hoặc lo âu (anxiety), làm tăng nguy cơ sinh non tự phát.

“Trên thực tế, căng thẳng tâm lý mãn tính (chronic psychological stress) do những trải nghiệm mang tính cấu trúc và cá nhân với nạn phân biệt chủng tộc dường như đóng góp đáng kể vào nguy cơ sinh non ở những người Mỹ da đen”, Tiến sĩ Gillespie nói.

Bất chấp tất cả dữ liệu này, Tiến sĩ Gillespie lưu ý rằng do các yếu tố nguy cơ vô cùng đa dạng, “Theo lịch sử, chúng ta đã nhiều lần thất bại trong nỗ lực dự đoán và ngăn ngừa nguy cơ sinh non. Một số cá nhân có yếu tố nguy cơ sẽ bị sinh non và những người khác thì không, vì những lý do không rõ.”

Xét nghiệm Máu Mới để Đánh giá Nguy cơ Sinh non
Tiến sĩ Gillespie và nhóm của bà đã tìm cách đo lường các yếu tố này có thể dẫn đến sinh non. Trong một thập kỷ, các nhà nghiên cứu đã đi sâu vào hệ thống miễn dịch (immune system) của người mang thai với sự hợp tác của 257 người tham gia nghiên cứu. Họ đã có thể xác định rằng nhiều yếu tố nguy cơ sinh non tự phát làm thay đổi một cách tinh tế cách hoạt động của hệ thống miễn dịch theo thời gian.

“Xét nghiệm, được thiết kế để đưa vào quy trình chăm sóc tiền sản thường quy (routine prenatal care), đo lường những thay đổi trong chức năng miễn dịch (immune function) dường như là quan trọng nhất đối với sinh non, cho phép chúng tôi dự đoán rủi ro với độ chính xác đáng kể lên đến 97,5% dựa trên các thử nghiệm cho đến nay”, Tiến sĩ Gillespie báo cáo.

Theo Tiến sĩ Gillespie, hiện tại, xét nghiệm dự đoán chính xác nguy cơ sinh non khi được thực hiện trước 20 tuần (before 20 weeks).

“Hiện chúng tôi đang nỗ lực để đảm bảo rằng xét nghiệm này cũng chính xác và đáng tin cậy ngay cả trong giai đoạn đầu thai kỳ (very early pregnancy), điều này sẽ cho phép chúng tôi kết hợp xét nghiệm với các xét nghiệm trong phòng thí nghiệm tiêu chuẩn được hoàn thành tại lần khám tiền sản đầu tiên (first prenatal visit)”, bà nói và cho biết thêm các thử nghiệm đang được tiến hành với tới 500 người tham gia mới — và họ đang tìm kiếm thêm!

Hiện tại, xét nghiệm này chưa có sẵn cho những người mang thai trong môi trường chăm sóc sức khỏe, nhưng Tiến sĩ Gillespie nói với Parents rằng bà hy vọng điều đó sẽ thay đổi trong vòng vài năm tới.

Tương lai có thể như thế nào với Xét nghiệm Mới này
Mục tiêu biến xét nghiệm này thành một phần của chăm sóc tiền sản thường quy là để giúp những người mang thai có được càng nhiều kiến thức càng tốt về sức khỏe của họ và em bé.

Theo Tiến sĩ Gillespie, kiến thức này có thể định hình cách nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe theo dõi thai kỳ (monitors the pregnancy) và hành động tùy thuộc vào các dấu hiệu và triệu chứng (signs and symptoms) khác nhau.

“Ví dụ, nếu một cá nhân được cho là có nguy cơ cao sinh non sắp xảy ra, một loại thuốc (medication) có thể được sử dụng để thúc đẩy sự trưởng thành phổi (accelerate the maturation of the baby’s lungs) của em bé và cải thiện cơ hội sống sót của chúng”, bà nói.

Bà hy vọng rằng chăm sóc sức khỏe cá nhân hóa (personalized healthcare) cho những người mang thai là làn sóng của tương lai.

“Nếu bạn biết điều gì đang dẫn đến nguy cơ, bạn có thể chọn can thiệp (intervention) phù hợp cho đúng người và ngăn ngừa hoàn toàn bệnh tật. Đó là giấc mơ của chúng tôi”, bà chia sẻ.

Cuối cùng, Tiến sĩ Gillespie muốn bất kỳ ai bị ảnh hưởng bởi sinh non biết rằng họ không đơn độc.

“Có những người ngoài kia như tôi đang cống hiến toàn bộ cuộc đời để giải quyết vấn đề quan trọng và phức tạp này”, bà nói và cho biết thêm mục tiêu của bà là mang đến cho các gia đình những can thiệp đã được chứng minh — và sự yên tâm (peace of mind). “Chúng tôi đang rất gần. Và bạn truyền cảm hứng cho chúng tôi để kiên trì”, bà nói.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *